Thực trạng và phương pháp giảm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay là một trong những keyword được search nhiều nhất trên google về chủ đề, Trong bài viết này giaiphapvieclam.vn sẽ viết bài thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Thực trạng và phương pháp giảm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

TCCT

Tóm tắt:

Trong điều kiện kinh tế đối tượng, thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầuk loại trừ một quốc gia nào, cho dù đất nước đó là nước vừa mới phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triểnvì vậy, giảm phần trăm thất nghiệp, bảo đảm việc sử dụng, ổn định đời sống cho người lao động trở thành mục đích quan trọng của nhiều nước trên toàn cầu, trong đó có Viet Nam

Từ khóa: Thất nghiệp, thế giớidoanh thu, việc sử dụng, độ tuổi lao động, kinh tế thế giới…

I. ĐẶT vấn đề

Trong những năm gần đây với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, Viet Nam vừa mới đạt được một số thành tựu trong các ngành nghề du lịch, dịch vụ, xuất khẩu lương thực thực phẩm… Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng gặp một số vấn đề chông gai trong kinh tế. hiện tạichủ đề cần để ý hàng đầu đối với nền kinh tế Viet Nam chính là tình trạng mất việc làm, thất nghiệp tăng trưởngthu nhập của người dân giảm sút; sự suy giảm, thậm chí đình trệ sản xuất kinh doanh của một số ngành, trong đó có các lĩnh vực xuất khẩu, và mức độ khắc phục những yếu kém của nền kinh tế. do vậy, thời gian qua, Chính phủ VN đã rất nỗ lực thực hiện các giải pháp chống suy thoái và dự báo tình ảnh kinh tế trong nước, kinh tế thế giới để điều chỉnh, điều hành tốt nền kinh tế nước nhà, đặc biệt làgiảm được trạng thái thất nghiệp hiện giờ.

xem thêm: Hướng dẫn viết CV xin việc làm thêm cho sinh viên 2020

II. THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở Việt Nam

Theo đo đạt về nguồn nhân công và thị trường lao động ở Viet Nam hiện giờ, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/10/2015 ước tính là 54,32 triệu người, gia tăng 11,7 nghìn người đối với cùng thời điểm năm 2014, gồm có lao động nam là 28,12 triệu người, chiếm 51,77%; lao động nữ là 26,20 triệu người, chiếm 48,23%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 16,87 triệu người, chiếm 31,06%; khu vực nông thôn là 37,45 triệu người, chiếm 68,94%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên là 47,78 triệu người, gia tăng 9,3 nghìn người đối với cùng thời điểm năm 2014; gồm có lao động nam 25,75 triệu người, chiếm 53,9%; lao động nữ 22,03 triệu người, chiếm 46,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi của khu vực thành thị là 15,38 triệu người, chiếm 32,19%; khu vực nông thôn là 32,40 triệu người, chiếm 67,81%.

Lao động 15 tuổi trở lên vừa mới làm việc trong 9 tháng năm 2015 ước tính 52,72 triệu người, giảm 177,3 nghìn người đối với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động sử dụng việc trong ngành Nông, lâm nghiệp và Thủy sản là 23,35 triệu người, giảm 1.523,7 nghìn người, chiếm 44,3%; lao động công nghiệp và xây dựng là 11,85 triệu người, tăng trưởng 756,4 ngàn người, chiếm 22,5%; lao động dịch vụ là 17,52 triệu người, tăng trưởng 590 ngàn người, chiếm 33,2%.

phần trăm thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2015 ước tính là 2,36% (Quý I là 2,43%; Quý II là 2,42%; Quý III là 2,24%), trong đó khu vực thành thị là 3,42% (Quý I là 3,43%; Quý II là 3,53%; Quý III là 3,31%); khu vực nông thôn là 1,86% (Quý I là 1,95%; Quý II là 1,91%; Quý III là 1,73%).

phần trăm thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 – 24 tuổi) 9 tháng năm 2015 ước tính là 6,74% (Quý I là 6,6%; Quý II là 6,68%; Quý III là 6,9%), trong đó khu vực thành thị là 11,52% (Quý I là 10,95%; Quý II là 11,84%; Quý III là 11,7%); khu vực nông thôn là 5,05% (Quý I là 4,99%; Quý II là 4,91%; Quý III là 5,23%).

phần trăm thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên trong 9 tháng năm 2015 là 1,25% (Quý I là 1,41%; Quý II là 1,3%; Quý III là 1,03%), trong đó khu vực thành thị là 1,86% (Quý I là 1,99%; Quý II là 1,92%; Quý III là 1,67%); khu vực nông thôn là 0,96% (Quý I là 1,13%; Quý II là 1,02%; Quý III là 0,72%).

% thiếu việc sử dụng của lao động trong độ tuổi lao động ước tính là 1,93% (Quý I là 2,43%; Quý II là 1,8%; Quý III là 1,52%), trong đó khu vực thành thị là 0,92%; khu vực nông thôn là 2,4%.

Mặc dù nước ta có % tham gia lực lượng lao động to và % thất nghiệp thấp, nhưng lao động có việc làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp lại khá cao. Ước tính quý IV/2015, phần trăm lao động có việc sử dụng phi chính thức phi hộ nông nghiệp của cả nước chiếm 56,4% tổng số lao động có việc làm khu vực phi hộ nông nghiệp, trong đó % lao động có việc làm phi chính thức phi hộ nông nghiệp khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 64,5%.

tăng trưởng năng suất lao động của Viet Nam trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ luôn luôn còn ở mức thấp hơn nhiều đối với các nước không giống trong khu vực. Điều này cho thấy đối tượng lao động Viet Nam thiếu ổn định, việc sử dụng chưa đa số và vững bền, với năng suất lao động thấp.

đủ sức thấy đối tượng lao động Viet Nam đã có những bước tiến quan trọng trong vài thập kỷ qua. Điều này được thể hiện qua mức lương cao hơn, tốc độ giảm đều đặn của các việc làm trong lĩnh vực Nông nghiệp và luật pháp lao động được cải thiện. Nhưng mặc dù có những tiến bộ giống như vậy, gần một nửa người số lao động Việt Nam luôn luôn đang làm việc trong ngành Nông nghiệp – ngành có năng suất lao động và thu nhập thấp. Cứ mỗi 5 người lao động thì khoảng 3 người sử dụng những công việc dễ bị tổn thương (lao động tự làm và lao động gia đình k trả lương) – đó là những công việc có điều kiện làm việc đặc biệt không đảm bảo.

Nhìn chung, năng suất lao động và lương của Viet Nam tương đối thấp so với các nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN giống như Malaysia, Singapore và Thái Lan. Bởi vậy, VN cần thường xuyên cố gắng tăng trưởng cường pháp luật lao động, thay đổi việc tuân thủ pháp luậtxúc tiến nền móng gắn kết lao động và các cơ sở coachingtăng trưởng skill.

ngoài rahạn chế của việc dùng tỷ lệ thất nghiệp làm thước đo cho các nền kinh tế đã phát triển như Việt Nam là không thể hiện được đầy đủ trạng thái của đối tượng lao động. Những nước này k có đủ những việc sử dụng tốt, vững bền với năng suất cao, kéo đến việc không sử dụng được đa số tiềm năng của lực lượng lao động (labour underutilization) như tỷ lệ thiếu việc làm cao, doanh thu thấp và năng suất lao động thấp. giống như vậy, việc theo dõi thị trường lao động ở các nước đang tăng trưởng như VN cần có những chỉ số thể hiện được chất lượng việc làm. Chẳng hạn, những chỉ số này bao gồm phần trăm lao động nghèo, tỷ lệ việc sử dụng dễ bị thương tổntỷ lệ nền kinh tế phi chính thức, tỷ lệ lĩnh vực Nông nghiệp trong số việc sử dụng, năng suất lao động và lương bình quân.

xem thêm: Hướng dẫn viết CV xin việc làm thêm cho sinh viên 2020

tổng kết, cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam thể hiện tỷ lệ lớn dân số trong độ tuổi lao động và giảm tỷ lệ dựa vào. Nếu Viet Nam đủ nội lực tạo ra đủ việc sử dụng có chất lượng cao để cung cấp nguồn lao động đang xây dựng rộng, đủ sức đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết những lỗ hổng trên đối tượng lao động. cùng lúc, sự ổn định kinh tế vĩ mô và các thể chế về thị trường lao động vững mạnh hơn sẽ khiến xây dựng một hoàn cảnh kinh doanh tốt hơn, thu hút đầu tư và kích cầu. thêm vào đó, thay đổi chất lượng giáo dụcđào tạo và chất lượng của các nhà sản xuất dịch vụ việc sử dụng sẽ giúp người lao động VN và người tìm việc giải quyết được các nhu cầu của công ty và ngành nghề và nắm bắt những cơ hội việc sử dụng mới và tốt hơn.

lý do gây ra thất nghiệp ở Việt Nam được đánh giá là do:

– Lực lượng lao động phân bố không đồng đều giữa các vùng địa lý kinh tế, chủ yếu tụ hội ở đồng bằng sông Hồng (không bao gồm Hà Nội): 15,2%, đồng bằng sông Cửu Long: 19,1%; trong khi các vùng đất rộng có tỉ trọng lao động thấp như trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,7%, Tây Nguyên chiếm 6,3% lực lượng lao động. vì vậy, chưa tạo điều kiện phát huy được lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động và góp phần phân bố lại lực lượng lao động, đây chính là nguyên nhân tạo ra sự mất cân đối cục bộ về lao động và là tác nhân của thất nghiệp, thiếu việc làm.

– Lực lượng lao động có chất lượng thấp.

+ Theo nghiên cứu của ngân hàng toàn cầu, chất lượng nguồn nhân lực của Viet Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á.

nguồn nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp… Trong tổng số hơn 53,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đã sử dụng việc trong nền kinh tế, chỉ có khoảng 49% qua training, trong đó qua training ngành từ 3 tháng trở lên chỉ chiếm khoảng 19%. Khoảng hướng dẫn khác biệt về tỉ lệ này giữa khu vực thành thị và nông thôn là khá cao (20,4% và 8,6%).

không những thế, thể lực của lao động Viet Nam ở mức trung bình kém, chưa đáp ứng được cường độ sử dụng việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế.

+ Công tác chăm sóc sức khỏe và an toàn ngành nghiệp chưa tốt; ngoài ra, kỷ luật lao động còn kém so với nhiều quốc gia trong khu vực.

+ Một bộ phận lớn người lao động cho đến nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, tùy tiện về giờ giấc và hành vi.

+ Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và skill làm việc theo group, thiếu mức độ hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và share trải nghiệm sử dụng việc.

– Năng suất, kết quả lao động trong các lĩnh vực kinh tế thấp và có sự không giống biệt đáng kể giữa khu vực nông nghiệp với khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ.

– tình trạng mất cân đối cung – cầu lao động cục bộ luôn luôn tiếp tục xảy ra. đối tượng lao động nước ta chủ yếu tập hợp ở các tp lớn, các vùng kinh tế trọng tâmkênh có nhiều KCX-KCN, như: Long An, Tphcm, Bình Dương, Đồng Nai… ngược lại một số tỉnh giống như Bạc Liêu, Ninh Thuận, Thanh Hóa, Nghệ An lại có hiện trạng dư cung, vừa mới phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao.

Mặc dù đã tiến hành hai đợt cải hướng dẫn tiền lương, bước đầu tách bạch tiền lương khu vực sản xuất mua bán và khu vực hành chính sự nghiệp, tạo điều kiện đổi mới chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh theo định hình đối tượng nhưng mức tiền lương tối thiểu thấp chưa được tính đúng, tính đủ cho mức sống tối thiểu và chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu cơ bản của người lao động, thấp hơn mức lương tối thiểu thực tế trên thị trường khoảng 20% và cho đến nay mới đạt khoảng 45% mức tiền lương tối thiểu trung bình của khu vực ASEAN.

– Công tác thống trị nhà nước về lao động – việc sử dụng còn nhiều hạn chế:

+ Các chính sách, pháp luật vừa mới từng bước hoàn thiệnnền tảng thông tin đối tượng lao động còn sơ khai thiếu đồng bộ.

+ Chính sách bảo hiểm thất nghiệp hết sức tiến bộ nhưng chưa đạt được mục tiêu giống như mong muốn nhằm không chỉ hỗ trợ cuộc đời người lao động khi mất việc làm mà còn phải huấn luyện ngành, tư vấn, hỗ trợ để giúp quay lại đối tượng lao động.

III. giải pháp GIẢM THẤT NGHIỆP Ở Viet Nam

– Tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế

Về tài khóa, sẽ liên tục đẩy mạnh đầu tư tăng trưởng dựa vào củng cố nguồn thu; giãn nộp thuế thu nhập công ty cho các thành phần kinh tế.

Về tiền tệ, sẽ liên tục bù lãi suất tín dụng cho vốn vay trung và dài hạn phục vụ đầu tư máy móc thiết bị cho nền kinh tế nói chung và cho khu vực nông nghiệp nói riêng với các khoản.

kích thích tăng trưởng bằng các gói kích cầu.

– sắp đặt lại cơ cấu lao động đồng thời nâng cao trình độ cho người lao động. VN có dân số trẻ nguồn lao động dồi dào, ngân sách rẻ nhưng do cơ cấu sắp đặt chưa phù hợp nên việc khai thác lao động kém hiệu quả.

– tăng nguồn vốn đầu tư (chủ yếu lấy từ dự trữ đất nước, vay nợ nước ngoài) đẩy mau tiến bộ xây dựng cơ sở hạ tầng, sử dụng thủy lợi, thủy điện giao thông… nhằm tạo việc sử dụng mới cho người lao động. song song, nới lỏng các chính sách tài chính, cải phương pháp thủ tục hành chính nhằm lôi kéo vốn đầu tư của nước ngoài tạo gốc việc làm cho người dân. không những thế khuyên rằng tăng trưởng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho các công ty vay vốn để mua sắm trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất.

– discount đối với doanh nghiệp thuộc mọi nguyên nhân kinh tế tham dự đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn, tạo nhiều việc làmhỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế, hoán thuế, khoanh nợ đồng thời với cam kết phải duy trì việc sử dụng cho số lao động hiện giờ và lôi kéo thêm lao động nếu đủ nội lựchỗ trợ vay vốn cho các doanh nghiệp gặp chông gai để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động.

– tăng trưởng kinh tế nhiều nguyên nhânthu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu côngnghiệp các dự án kinh tế. Giúp phát triển kinh tế và tạo việc sử dụng cho công nhân.

– Để nâng cao kết quả sử dụng lao động cần dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp và dịch vụ, hướng người lao động đến những việc sử dụng ở những ngànhmang lại trị giá cao trong các chuỗi trị giá, với điều kiện lao động cần có hiểu biết, có kỹ năng chuyên môn để dần thay thế khu vực kinh tế nông nghiệp kém kết quả bằng khu vực kinh tế có giá trị cao hơn, thông qua đó nâng cao đời sống và thu nhập của người lao động, tạo ra một thị trường lao động cạnh tranh để giảm nguy cơ thất nghiệp khi có khủng hoảng.

– Lao động nông thôn rất cần được coaching, dạy ngành, họ cần có trình độ chuyên môn và cải tiến văn hóa để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế của quốc gia.

– Cần đẩy mau tiến độ đô thị hóa và tăng trưởng mạnh các khu kinh tế vệ tinh, các khu công nghiệp và các làng ngànhtăng trưởng cường mối gắn kết giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt khai thác mối quan hệ kinh tế giữa các thành phố to với các khu vực phụ cận nhằm xây dựng nhiều việc sử dụng tại chỗ.

– cần có thành đạt bền vững và đồng bộ đối tượng hàng hóathị trường đất đai, thị trường vốn, thị trường lao động và phân khúc tín dụng.

– Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố hướng dẫn người lao động sớm tìm được việc làm mới thông qua trung tâm tư vấn việc sử dụng. Bên cạnh việc khắc phục việc làm thì đầu tư cho công tác dạy nghề cũng là biện pháp click cầu k kém phần cần thiết.

– hoàn thành nền tảng bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội.

– hiện trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học đang diễn ra. Để khắc phục hiện trạng này thì việc sử dụng tốt công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, hòa hợp giữa gia đình, nhà trường và không gian là hết sức quan trọng.

nguồn: http://tapchicongthuong.vn

Related Posts

Next Post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *